Bệnh xơ cứng bì là bệnh tự miễn được đặc trưng bởi sự tổn thương dày cứng da.Bệnh được chia làm hai thể: Xơ cứng bì lan tỏa và xơ cứng bì khu trú. Các tổn thương và biến chứng nặng chủ yếu là do xơ cứng bì lan tỏa gây ra, vì thể này gây tổn thương trên diện rộng, lan nhanh và gây tổn thương các cơ quan nội tạng.
I. Định nghĩa, dịch tễ, nguyên nhân và phân loại bệnh xơ cứng bì
- Định nghĩa:
Xơ cứng bì là một bệnh tự miễn chưa rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi tình trạng dày và xơ cứng da, mô dưới da do tăng sinh chất tạo keo ở mô liên kết dưới da. Làm tổn thương các mạch máu từ đó gây xơ cứng, tắc nghẽn các cơ quan như: Mạch máu (hội chứng Raynaud), tiêu hóa, tuần hoàn, phổi, thận và cơ quan khác.
- Dịch tễ xơ cứng bì:
Xơ cứng bì là bệnh có tỷ lệ gặp vào khoảng 0,019% và tần xuất xuất hiện bệnh hàng năm là 19ca/1 triệu dân. Bệnh chủ yếu gặp ở độ tuổi 30-50 và nữ với tỷ lệ Nữ/Nam >3/1. Gặp nhiều ở châu Á, Mỹ, Phi hơn.
- Nguyên nhân của bệnh xơ cứng bì:
Hiện tại vẫn chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây xơ cứng bì. Theo các nghiên cứu nó có thể là sự phối hợp của nhiều yếu tố: Bất thường miễn dịch, cấu trúc gen, hóa chất độc hại, hocmon sinh dục nữ. Và không có yếu tố lây lan hay di truyền.
- Phân loại: Xơ cứng bì (hay xơ cứng bì hệ thống) bao gồm hai thể rõ: Xơ cứng bì hệ thống lan toả và xơ cứng bì hệ thống giới hạn.
* Xơ cứng bì lan tỏa: Chiếm 10% bệnh xơ cứng bì hệ thống, có da xơ cứng đối xứng hai bên vùng mặt, cổ, ngực, các chi, có tổn thương nội tạng sớm có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng.
* Xơ cứng bì hệ thống khu trú (hay giới hạn): Chiếm 60-90% số ca xơ cứng bì hệ thống. Bệnh không nguy hiểm bằng xơ cứng bì hệ thống lan toả gọi là hội chứng CREST vì có:
+ Nút canxi hóa da (Calcinosis)
+ Hội chứng Raynaud
+ Rối loạn thực quản (Esophageal dysfunction)
+ Chứng cứng các ngón (Sclerodactily)
+ Dãn mao mạch (Telangiectasia)
Đặc điểm: Tổn thương da thường ở ngón tay, mặt, bệnh nội tạng.
II. Triệu chứng của bệnh xơ cứng bì lan tỏa
Biểu hiện bệnh của rất đa dạng và phức tạp dưới đây là những triệu chứng chính của xơ cứng bì thể lan tỏa:
1. Hội chứng Raynaud
Hội chứng Raynaud thường là biểu hiện đầu tiên đi trước các dấu hiệu khác từ vài tuần đến vài năm. Các triệu chứng thường khởi phát kịch phát do lạnh, xảy ra ở một hay nhiều ngón theo 3 giai đoạn:
+ Đầu tiên: Xảy ra nhanh trong vài phút ở các ngón tay làm đầu ngón trắng bệch, lạnh và giảm cảm giác.
+ Sau đó: Vùng chi tím lại, đau.
+ Kết thúc: Bàn tay hồng lại và nóng hơn do giãn mao quản.
Hiện tượng ngày càng xuất hiện với tần số dày hơn, triệu chứng rõ nét hơn cuối cùng bàn tay luôn lạnh, tím, giảm cảm giác, có thể hoại tử đầu chi. Có thể lan rộng lên mặt và thân mình làm cho mặt đờ ra, mũi nhọn, miệng hẹp xung quanh dấu hiệu giống hình nan hoa xe đạp.
Hội chứng Raynaud: Bàn tay tím, đầu các ngón thì tái nhợt
2. Triệu chứng tổn thương da và niêm mạc
Là biểu hiện đặc trưng nhất khiến bệnh nhân phải đi khám.
+ Da dày cứng căng ra không có nếp nhăn khiến khuôn mặt vô cảm, khó há miệng, khó ăn uống, da cạnh khớp khiến hạn chế vận động, có đám rối loạn sắc tố, rối loạn canxi, da khô ngứa.
+ Thân mình bị xơ cứng làm bó vùng vai như áo giáp bằng da, làm mất vú, da bụng trở nên căng cứng như da trống.
+ Bệnh nhân có thể có khô mắt khô miệng, sưng đau các khớp lớn và vừa, teo da, loét hoại tử đầu chi, loét miệng, áp xe quanh răng.
3. Các triệu chứng khác
- Dấu hiệu toàn thân
Trước khi bệnh đủ triệu chứng từ vài tuần đến vài tháng bệnh nhân thường xuất hiện các triệu chứng:
+ Chán ăn, mệt mỏi, gầy, sút cân.
+ Tím buốt đầu chi và cơ xương khớp nhức mỏi khoảng vài tuần.
- Tổn thương tim mạch
Viêm màng ngoài tim, tức ngực, suy tim, rối loạn nhịp tim, nhịp tim nhanh hoặc chậm, block nhánh, bloc nhĩ thất, bệnh cơ tim.
- Tổn thương phổi
Hay gặp xơ phổi do tổ chức kẽ ở phổi bị xơ hóa biểu hiện:
+ Ho khan, khó thở khi gắng sức, rì rào phế nang giảm ở đáy phổi.
+ Giai đoạn muộn tăng áp lực động mạch phổi có thể gây tử vong.
- Tổn thương thận
Là nguyên nhân tử vong trong nhiều trường hợp bệnh xơ cứng bì. Nguyên nhân của tổn thương thận là do giảm thể tích máu đến thận, do xơ cứng động mạch thận, các mạch máu nhỏ ở thận; do bài tiết renin gây co nhỏ mạch máu và giảm lưu lượng thận.
Các biểu hiện thường là:
+ Phù, suy thận cấp
+ Protein niệu đơn thuần kèm tăng HA, thiếu máu.
+ Tổn thương tổ chức học của thận.
- Triệu chứng hệ tiêu hóa
Loét miệng, viêm teo gai lưỡi, nuốt khó, nuốt vướng.
Trào ngược thực quản, hẹp thực quản, giảm nhu động, loét thực quản.
loét, xuất huyết, giảm nhu động.
Viêm loét ruột non, hành tá tràng, hoại tử ruột, giảm nhu động ruột, hội chứng giả tắc ruột…
- Tổn thương thần kinh
+ Tổn thương dây thần kinh tam thoa với triệu chứng: Dị cảm, đau đối xứng, không có rối loạn vận động.
+ Tổn thương thần kinh trung ương với rối loạn tâm thần kèm theo.
+ Tổn thương hệ thần kinh tự động thường xuyên gặp trong các tổn thương ở dạ dày và ruột, gây rối loạn nhu động dạ dày và ruột
Thiếu vitamin B12 do quá trình kém hấp thu canxi hóa trong tủy hoặc chèn ép tủy.
- Cơ xương khớp
Cơ: Đau cơ, chậm lên sẹo.
Tổn thương xương khớp chiếm tới 50-90% trong bệnh xơ cứng bì tiến triển: viêm bao hoạt dịch, tràn dịch khớp, đau khớp, viêm khớp đối xứng, thường viêm đau ở các khớp đốt ngón tay, bàn tay, cổ tay, khớp gối, có thể kèm theo sưng, nóng, đỏ.
Trên phim X quang có thể thấy phần mềm quanh khớp dày lên, hẹp khe khớp, loãng xương, huỷ đầu xương.
- Nội tiết
Bệnh tuyến giáp, teo tuyến thượng thận.
Các triệu chứng của xơ cứng bì tiến triển và nặng dần trong những năm đầu, sau đó bệnh đi vào ổn định.
III. Chẩn đoán xơ cứng bì lan tỏa
1. Chẩn đoán xác định
Để chẩn đoán xác định bệnh xơ cứng bì cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng. Chẩn đoán xơ cứng bì dựa theo các tiêu chuẩn của Hội Khớp Mỹ (ARA) năm 1980 bao gồm:
Tiêu chuẩn chính:
Xơ cứng da vùng chi: da dày cứng, ấn không lõm.
Tiêu chuẩn phụ:
+ Xơ da đầu chi: xơ cứng ngón tay chân, hạn chế gấp, duỗi các ngón tay.
+ Xơ phổi ở vùng đáy.
+ Loét hoặc sẹo ở đầu ngón tay.
Chẩn đoán xác định bệnh xơ cứng bì khi có tiêu chuẩn chính, hoặc có 2 tiêu chuẩn phụ nhưng phải có cứng da đầu chi.
Để chẩn đoán chính xác hơn có thể sinh thiết da hoặc làm xét nghiệm tìm tự kháng thể hay có trong xơ cứng bì như Scl-70 và kháng thể centromere.
2. Chẩn đoán phân biệt
+ Viêm khớp dạng thấp.
+ Da cứng phù niêm.
+ Xơ cứng bì khu trú.
+ Teo cứng da bẩm sinh.







